Ung thư vú di căn gan

Quyển sách này mô tả ung thư vú di căn gan, các triệu chứng và điều trị.

Ung thư vú di căn gan xảy ra khi ung thư nguyên phát ở vú lan tới gan. 

Chúng tôi hy vọng cuốn sách này sẽ trả lời một số thắc mắc và giúp bạn thảo luận các lựa chọn với bác sĩ điều trị.

Chúng tôi khuyến khích bạn nên tìm đọc quyển Trọn gói thông tin ung thư vú di căn, có các thông tin hữu ích từ lúc chẩn đoán xuyên suốt quá trình điều trị và chăm sóc. Tài liệu cũng bao gồm những tác động của ung thư vú di căn và các hỗ trợ hiện có.

Ung thư vú di căn gan là gì?

Ung thư vú di căn xảy ra khi các tế bào ung thư vú lan từ khối u nguyên phát (ung thư ban đầu) ở vú tới các bộ phận khác của cơ thể, ví dụ như vào gan. Con đường di căn có thể thông qua hệ bạch huyết hoặc qua đường máu.

Ung thư vú di căn có thể được gọi bằng các tên khác như ung thư vú giai đoạn 4, ung thư vú giai đoạn tiến xa, ung thư vú tái phát di căn. 

Ung thư vú di căn gan không phải là ung thư gan, vì những tế bào di căn vào gan thực ra là những tế bào ung thư vú.

Tiên lượng

Khi ung thư vú di căn vào gan thì có thể điều trị được nhưng không thể chữa khỏi. Điều trị nhằm kiểm soát và làm chậm sự lan tràn của ung thư, giảm nhẹ các triệu chứng và cố gắng duy trì chất lượng sống tốt nhất cho bệnh nhân. 

Sau chẩn đoán ung thư vú di căn gan, nhiều người muốn biết họ có thể sống được bao lâu nữa. Do có những cải thiện trong điều trị nên ngày càng có nhiều người sống lâu hơn sau khi nhận chẩn đoán ung thư vú di căn. Tuy nhiên, việc dự đoán tuổi thọ là rất khó do mỗi trường hợp là khác nhau và chẳng có hai ung thư nào giống nhau.

Bác sĩ có thể nói cho bạn về diễn biến có thể xảy ra của ung thư vú di căn. Bạn có thể lo lắng vì câu trả lời của bác sĩ là mơ hồ không rõ ràng, nhưng quả thật, không thể dự đoán chính xác đáp ứng của mỗi người với điều trị.

Gan

Để hiểu các triệu chứng được mô tả trong quyển sách này, bạn cần tìm hiểu thêm về gan.

Gan là cơ quan lớn, có thể tiếp tục hoạt động ngay cả khi một phần của nó bị ảnh hưởng bởi ung thư vú di căn đến.

Gan nằm ở bên phải của ổ bụng trên, ngay dưới xương sườn. Gan được cấu tạo bởi các thùy khác nhau và có màng bọc bao quanh. Gan nằm gần các cơ quan nội tạng khác như ruột, cơ hoành (cơ ngăn lồng ngực và ổ bụng) và thận phải.

Gan sản sinh ra mật giúp tiêu hóa thức ăn. Mật được lưu trữ trong túi mật và tiết vào ruột non thông qua ống mật. Gan chuyển hóa thức ăn thành nhiệt, năng lượng, lưu trữ đường glucose, các vitamin và chuyển hóa các chất nguy hại như rượu và thuốc. Gan sản xuất ra nhiều protein quan trọng gồm cả các protein cần để cầm máu.

Các triệu chứng 

Có nhiều triệu chứng chung của ung thư vú di căn gan. Triệu chứng có thể từ nhẹ đến nặng, phụ thuộc vào bao nhiêu phần gan bị di căn. Bạn cần báo cáo với bác sĩ khi có triệu chứng mới hoặc các triệu chứng tồn tại lâu dài.

Các triệu chứng gồm:

  • Đau ở ổ bụng, cũng có thể cảm thấy đau cả ở vùng vai phải
  • Thấy khó chịu hoặc đau ở bên phải ổ bụng phía dưới xương sườn
  • Buồn nôn
  • Ăn không ngon miệng và sụt cân
  • Nấc cụt
  • Cổ trướng (tích tụ dịch thừa ở ổ bụng làm bụng to lên)
  • Thể trạng chung giảm sút
  • Mệt mỏi kéo dài  
  • Ngứa và vàng da

Các triệu chứng này sẽ được giải thích kỹ ở các trang sau.

Đôi khi ung thư vú di căn gan được phát hiện trong khi chụp chiếu và chưa hề có triệu chứng nào. 

Tôi cần làm những xét nghiệm gì?

Bác sĩ sẽ khám cho bạn và có thể sờ thấy nếu gan của bạn to ra. Bác sĩ cũng sẽ thảo luận với bạn về các triệu chứng bạn có. Bác sĩ có thể chỉ định một hoặc nhiều xét nghiệm sau để giúp chẩn đoán xác định ung thư vú di căn gan.

Xét nghiệm máu

Khi ung thư vú lan tới gan thì một lượng các chất nào đó trong máu có thể tăng lên. Xét nghiệm máu hay còn gọi là xét nghiệm chức năng gan có thể đo lường được các chất này và cho thấy sự thay đổi về hoạt động của gan. 

Bạn cũng có thể cần các xét nghiệm máu trước và trong điều trị. Các xét nghiệm này cũng có thể cho thấy hiệu quả của điều trị. 

Các bác sĩ điều trị sẽ giải thích cho bạn xét nghiệm nào cần và tại sao lại cần.

Xét nghiệm chất chỉ thị khối u

Một số người được làm xét nghiệm máu tìm chất chỉ thị khối u (tumor markers), là các protein có trong máu có thể giúp theo dõi bạn đáp ứng điều trị như thế nào, liệu ung thư có đang tiến triển nặng lên hay không. Tuy nhiên, vẫn có tranh cãi về độ chính xác của việc đo lường chất chỉ thị khối u nên không phải tất cả các bác sĩ đều dùng xét nghiệm này. 

Siêu âm

Siêu âm dùng sóng âm cao tần để ghi lại hình ảnh và tìm kiếm các dấu hiệu bất thường tại gan.

CT (chụp cắt lớp vi tính)

Kỹ thuật chụp này sử dụng tia X để chụp ảnh các chi tiết trên cơ thể.  

Chụp PET (ghi hình cắt lớp phát positron) 

Kỹ thuật chụp này cho thấy các bộ phận khác nhau của cơ thể đang hoạt động hiệu quả thế nào. Nó thường không được dùng để chẩn đoán nhưng có thể giúp các bác sĩ đánh giá xem ung thư đã lan xa tới đâu và đáp ứng điều trị như thế nào.

Chụp PET- CT 

Đây là kỹ thuật kết hợp chụp CT (chụp cắt lớp vi tính) với PET (ghi hình cắt lớp phát positron) cho ra hình ảnh ba chiều đưa ra chi tiết cả về cấu trúc và chức năng của mô đang được xem xét, nên nói chung là có giá trị hơn chỉ chụp PET. Nó thường không được dùng để chẩn đoán ung thư vú tái phát, nhưng có thể giúp bác sĩ xác nhận chẩn đoán và xem bệnh đã lan xa tới đâu, khi các kỹ thuật chụp chiếu khác không thể đánh giá được. 

MRI scan (chụp cộng hưởng từ)

MRI sử dụng từ trường và sóng vô tuyến để tạo ra một loạt các ảnh bên trong cơ thể. MRI không làm cơ thể phơi nhiễm với tia X và có thể cho thấy bao nhiêu phần gan đã bị di căn.

Sinh thiết gan

Trong hầu hết các trường hợp, từ các triệu chứng và phim chụp thì bác sĩ đều có thể nói là bạn bị ung thư vú di căn gan hay không. Tuy nhiên, các bác sĩ thường sinh thiết khối di căn gan (nếu có thể) để có thêm thông tin giúp đưa ra quyết định điều trị, xem thêm phần “Điều trị nào là thích hợp cho bạn”. Sinh thiết gan gồm lấy một mẫu mô nhỏ từ gan khi có gây tê cục bộ, và mẫu mô được xem xét dưới kính hiển vi. Thủ thuật thường thực hiện dưới sự hướng dẫn của siêu âm. Bạn sẽ cần ở lại bệnh viện và theo dõi khoảng vài tiếng sau khi sinh thiết gan phòng nguy cơ chảy máu.

Tôi sẽ được điều trị bằng những phương pháp nào?

Điều trị có thể bao gồm:

Các phương pháp điều trị này có thể dùng đơn lẻ hoặc kết hợp với nhau. 

Khi đưa ra quyết định về điều trị tốt nhất cho bạn, bác sĩ điều trị sẽ xem xét những yếu tố như là:

  • Mức độ xâm lấn của ung thư trong gan
  • Ung thư đã lan tới các bộ phận khác chưa
  • Bạn có những triệu chứng gì
  • Bạn đã được điều trị như thế nào trong quá khứ
  • Đặc điểm sinh học của ung thư
  • Bạn đã mãn kinh hay chưa
  • Sức khỏe tổng thể của bạn

Các bác sĩ sẽ thảo luận cách điều trị với bạn và có lưu tâm đến mong muốn của bạn. Họ sẽ nói chuyện với bạn về các lựa chọn, giải thích mục đích của điều trị và giúp bạn xem xét và cân nhắc các lợi ích so với các tác dụng phụ có thể xảy ra.

Để đảm bảo lựa chọn được kế hoạch và phác đồ điều trị là phù hợp nhất, bạn có thể đề nghị bác sĩ:

  • Giải thích các lựa chọn điều trị của bạn, và tại sao bác sĩ lại lựa chọn điều trị đó cho bạn.
  • Giải thích mục đích của điều trị cho bạn
  • Giải thích các tác dụng phụ có thể có và cách thức quản lý tác dụng phụ
  • Hỏi xem có các lựa chọn điều trị khác nữa không, bao gồm các điều trị mới tại các trung tâm khác mà bạn có thể được gửi tới để tìm hiểu thêm.
  • Có thử nghiệm lâm sàng nào mà bạn đủ điều kiện tham gia
  • Có thể gửi bạn tới một chuyên gia, ví dụ bác sĩ phẫu thuật gan nếu thấy cần thiết  
  • Xem xét các nguy cơ và lợi ích của việc điều trị 
  • Cần làm gì nếu bạn có các triệu chứng mới hoặc tác dụng phụ do điều trị gây nên.

Bạn cũng có thể yêu cầu có điều dưỡng xem xét kế hoạch điều trị của bạn, nhắc lại thông tin hoặc giải thích thuật ngữ mới cho bạn. Điều quan trọng là bạn cần nắm được kế hoạch tổng thể về điều trị của bạn. 

Liệu pháp nội tiết

Liệu pháp nội tiết được sử dụng để điều trị nhóm bệnh ung thư vú bị kích thích phát triển bởi chất nội tiết estrogen, nghĩa là estrogen trong cơ thể giúp ung thư phát triển. Dạng ung thư này được gọi là ung thư vú dương tính thụ thể nội tiết estrogen (ER+). Liệu pháp nội tiết ngăn chặn hoặc làm dừng tác dụng của estrogen lên các tế bào ung thư vú. Các thuốc của liệu pháp nội tiết khác nhau hoạt động theo cách khác nhau.

Nếu bạn được sinh thiết hoặc phẫu thuật ung thư vú nguyên phát, mô lấy ra sẽ được xét nghiệm để đánh giá xem có ER+ hay không. Tuy nhiên, ở một số người các thụ thể estrogen thay đổi trong quá trình phát triển ung thư vú tái phát. Vì thế, bác sĩ có thể sinh thiết khối di căn gan để xét nghiệm lại thụ thể nội tiết.

Nếu bạn đã sử dụng liệu pháp nội tiết trước đó thì bác sĩ có thể chỉ định dùng lại cùng loại thuốc hoặc thay đổi sang loại khác. Có thể mất từ hai tới ba tháng trước khi thấy được lợi ích của liệu pháp nội tiết. Các thuốc của liệu pháp nội tiết được sử dụng phổ biến nhất là tamoxifen (thuốc nội tiết bậc 1), goserelin (Zoladex), các chất ức chế aromatase (thuốc nội tiết bậc 2 - anastrozol, exemstane và letrozol) và fulvestrant (Faslodex).

Chúng tôi có các quyển sách và thông tin trên website www.breastcancernow.org về các thuốc nội tiết khác nhau, kể cả các tác dụng phụ. Liệu pháp nội tiết có thể được kết hợp với các liệu pháp đích (đề nghị xem Liệu pháp đích ở các trang sau).

Hóa trị 

Hóa trị là dùng thuốc chống ung thư để tiêu diệt tế bào ung thư. Nhiều loại thuốc hóa trị được sử dụng để điều trị ung thư vú thứ phát. Các thuốc này có thể được dùng một mình hoặc kết hợp với nhau. Các thuốc bạn được chỉ định sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm các thuốc hóa trị bạn đã dùng trong quá khứ và khoảng thời gian từ đó đến nay.

Muốn biết thêm thông tin, đề nghị đọc cuốn Hóa trị cho ung thư vú hoặc đọc các quyển sách về từng thuốc hóa trị riêng biệt.

Liệu pháp nhắm trúng đích (liệu pháp sinh học) 

Nhóm thuốc này chặn sự phát triển và lan tràn của ung thư. Các thuốc này nhắm tới và can thiệp vào các quá trình sinh học trong tế bào giúp ung thư phát triển.

Loại liệu pháp đích bạn được chỉ định sẽ phụ thuộc vào các đặc tính của ung thư vú của bạn.

Liệu pháp nhắm trúng đích cho ung thư vú tái phát dương tính HER2

Một số tế bào ung thư vú có mức protein HER2 (thụ thể 2 của yếu tố tăng trưởng biểu bì người) trên bề mặt tế bào cao hơn mức bình thường, protein này thúc đẩy tế bào ung thư vú phát triển, và được gọi là ung thư vú dương tính HER2.

Có nhiều xét nghiệm để đo mức độ HER. Nếu bạn đã được sinh thiết hoặc phẫu thuật ung thư vú nguyên phát thì mô lấy ra sẽ được xét nghiệm. Tuy nhiên ở một số người thì mức độ HER2 thay đổi trong quá trình phát triển của ung thư vú tái phát. Do vậy mà bác sĩ có thể sinh thiết khối di căn để xét nghiệm lại HER2.

Các liệu pháp đích phổ biến nhất cho ung thư vú dương tính HER2 là Trastuzumab (như là Herceptin), pertuzumab (Perjeta) và trastuzumab emtansine (Kadcyla).

Thỉnh thoảng bạn có thể được chỉ định dùng lapatinib (Tyverb).

Nếu ung thư vú của bạn âm tính HER2 thì liệu pháp đích cho ung thư vú dương tính HER2 không có bất kỳ lợi ích nào cả.

Liệu pháp đích cho ung thư vú thứ phát âm tính HER2

Nếu ung thư vú của bạn âm tính HER2 và dương tính thụ thể nội tiết estrogen (ER+) thì bạn có thể được chỉ định liệu pháp đích kết hợp với liệu pháp nội tiết, gồm palbociclib (Ibrance), ribociclib (Kisqali) và abemaciclib (Verzenios). Everolimus (Afinitor) cũng có thể được dùng.

Để có thông tin về các liệu pháp đích khác nhau, đề nghị xem trang web www.btreastcancercare.org.uk/targeted-therapy.

Các điều trị khác

Thuốc là điều trị chính cho ung thư vú di căn gan. Tuy nhiên một số điều trị như là phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị tại chỗ (xem phần hóa trị trong gan và nút mạch hóa chất ở trang sau) có thể được sử dụng. Các phương pháp này can thiệp vào khối ung thư trong gan nhằm mục đích giảm nhẹ triệu chứng. Những can thiệp này không điều trị ung thư ở các khu vực khác của cơ thể, nên có thể hữu ích cho những người mà ung thư vú tái phát chỉ di căn tới gan.

Phẫu thuật

Mặc dù phẫu thuật sẽ không chữa khỏi ung thư vú di căn gan nhưng thỉnh thoảng nó có thể là một phần của kế hoạch điều trị. Phẫu thuật rất có thể được thực hiện nếu khu vực ung thư vú tái phát trong gan là rất nhỏ, bác sĩ dễ dàng tiếp cận tới và không thấy điểm di căn nào khác trên cơ thể. Tuy nhiên trong hầu hết các trường hợp, một vài khu vực của gan đã bị di căn thì không phẫu thuật được. Ghép gan không phải là một giải pháp cho những người bị ung thư vú di căn.

Đốt nhiệt hoặc áp lạnh

Phương pháp đốt nhiệt hoặc áp lạnh có thể được dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với phẫu thuật. Các kỹ thuật này tiêu diệt các tế bào ung thư bằng cách làm nóng tế bào ung thư lên hoặc đông lạnh chúng lại. Ví dụ đốt nhiệt bằng sóng cao tần (RFA) gồm luồn một cây kim vào từng khối u trong gan và phá hủy khối u bằng nhiệt. RFA là phương pháp điều trị đặc biệt và hiện vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Bác sĩ sẽ nói cho bạn liệu phương pháp này có phù hợp với bạn hay không.

Xạ trị đích (xạ phẫu) 

Có thể cân nhắc dùng xạ trị rất chính xác cho những người có nốt ung thư di căn nhỏ ở gan nhưng vẫn có tình trạng sức khỏe chung và thể lực khá tốt. Phương pháp này cho phép chiếu liều cao tia phóng xạ với độ chính xác và tổn thương nhỏ nhất cho mô xung quanh. Xạ phẫu dùng để điều trị ung thư vú di căn gan cũng được gọi là CyberKnife, là tên của máy xạ. Xạ phẫu là dạng điều trị đặc biệt và có thể chỉ có ở một vài trung tâm.  Bác sĩ điều trị có thể nói liệu xạ phẫu có phù hợp với bạn không.

Hóa trị trong gan và nút mạch hóa chất

Hóa trị trong gan và nút mạch hóa chất là đưa hóa chất trực tiếp vào trong gan. Thủ thuật này được thực hiện qua một ống nhỏ, gọi là ống thông (catheter), vào trong động mạch chủ cung cấp máu cho gan. 

Đưa hóa chất trực tiếp vào gan nghĩa là đưa một nồng độ thuốc cao hơn vào khu vực ung thư.

Trong nút mạch hóa chất, thuốc hóa trị được đưa vào cùng với chất lỏng dạng dầu hoặc dạng bọt có tác dụng làm tắc mạch máu dẫn đến khối u. Khối u sẽ bị thiếu oxy và chất dinh dưỡng và thuốc hóa trị sẽ nằm lại trong khối u lâu hơn. Gan vẫn được cung cấp máu như bình thường.

Những phương pháp điều trị này thường được chỉ định như là một phần của thử nghiệm lâm sàng. 

 Xem thêm: Điều trị Hóa trị và những gì xảy ra trong khi điều trị, bạn nên biết

Lưu ý của người hiệu đính về điều trị khối di căn gan trong ung thư vú: Ở thời điểm hiện tại, các can thiệp tại chỗ đối với khối di căn gan trong ung thư vú, (ví dụ như phẫu thuật, đốt sóng cao tần, xạ phẫu…) là nhằm mục đích giảm nhẹ triệu chứng. Ví dụ như trong trường hợp các khối di căn lớn có thể vỡ hoặc khối di căn làm bệnh nhân đau nhiều mà không kiểm soát được bằng thuốc (điều trị toàn thân), thì bác sĩ có thể tính đến việc sử dụng các biện pháp can thiệp vào khối di căn. Việc can thiệp vào khối di căn thường chỉ được các bác sĩ cân nhắc đối với số ít trường hợp đặc biệt trong ung thư vú. Do đó, bạn nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị nếu bạn có câu hỏi về việc xử lý khối di căn gan của mình.

Thử nghiệm lâm sàng

Có rất nhiều thử nghiệm lâm sàng đánh giá các phương pháp điều trị mới hoặc các cách sử dụng mới cho các phương pháp điều trị hiện có, ví như các kỹ thuật phẫu thuật, hóa trị, liệu pháp nhắm trúng đích, hoặc xạ trị. Bác sĩ sẽ thảo luận với bạn về thử nghiệm lâm sàng, và nếu bạn muốn tham gia thì hỏi bác sĩ xem có thử nghiệm lâm sàng nào mà bạn đủ tiêu chuẩn tham gia.

Chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ

Chăm sóc giảm nhẹ và chăm sóc hỗ trợ chú trọng vào việc kiểm soát triệu chứng và hỗ trợ. Đó là phần cực kỳ quan trọng của chăm sóc và điều trị cho những người sống chung với ung thư vú di căn và có thể cải thiện đáng kể chất lượng sống cho họ và gia đình họ.

Mọi người thường gắn chăm sóc giảm nhẹ với điều trị cuối đời. Tuy nhiên, nhiều người coi trọng chăm sóc giảm nhẹ tại bất kỳ giai đoạn nào, có thể làm song song với điều trị y khoa để giúp ngăn ngừa và giảm nhẹ các triệu chứng như là đau hoặc mệt mỏi. Chăm sóc giảm nhẹ cũng có thể giúp cải thiện các ảnh hưởng về mặt cảm xúc, xã hội và tinh thần do ung thư vú di căn gây ra .

Xử trí những triệu chứng ung thư vú di căn gan

Đau

Giảm đau là một phần rất quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân ung thư vú thứ phát. Một khi cơn đau được kiểm soát, rất nhiều người cảm thấy bớt lo âu và ăn ngon, ngủ ngon hơn.

Một số người có thể khó chịu chỉ quanh vùng gan, trong khi những người khác lại cảm thấy đau ở sườn hoặc đau vùng bụng trên. Đây là do ung thư vú di căn gan đã làm gan to lên.

Đôi khi bạn có thể cảm thấy đau ở vai phải, do gan to lên đè vào dây thần kinh đi tới vai. Các thể dùng các thuốc steroids để giảm đau.

Hầu hết đau có thể giảm nhẹ và kiểm soát được. Điều quan trọng là đau được đánh giá đều đặn bởi bác sĩ hoặc điều dưỡng để đảm bảo rằng đau được kiểm soát.

Bạn có thể đọc thêm về kiểm soát đau trong quyển Trọn bộ thông tin ung thư vú tái phát, quyển này cũng gồm cả nhật ký triệu chứng để bạn có thể ghi lại cơn đau.

Buồn nôn và nôn

Nếu bạn cảm thấy buồn nôn hoặc nôn, thì rất có thể là do điều trị, bản thân ung thư đè lên dạ dày hoặc làm cho gan không làm việc đúng, hoặc các tác dụng phụ cảm xúc như là lo âu.

Buồn nôn và nôn hầu như có thể kiểm soát được và điều trị được bằng thuốc chống nôn. 

Việc quan trọng là bác sĩ tìm ra nguyên nhân để xử lý buồn nôn và nôn có hiệu quả. Bạn có thể giúp bác sĩ điều trị hoặc nhóm chăm sóc giảm nhẹ quyết định cách điều trị tốt nhất cho bạn bằng cách ghi chép lại sự thay đổi và diễn biến của đau. 

Ăn không ngon miệng và sụt cân

Đôi khi bệnh nhân ung thư vú di căn không ăn được nhiều như bình thường. Điều này có nghĩa là khó giữ được cân nặng bình thường cũng như khó cung cấp đầy đủ năng lượng cho cơ thể. 

Ăn không ngon miệng có thể do ảnh hưởng của ung thư, phương pháp điều trị, hoặc do lo âu. Nên ăn ít đi và ăn nhiều lần thay vì ăn nhiều thức ăn một lúc. Nếu bạn vẫn thấy là ăn không đủ lượng hoặc sụt cân, thì nên nói chuyện với bác sĩ hoặc điều dưỡng về thực phẩm bổ sung hoặc bạn cũng có thể đến gặp chuyên gia dinh dưỡng để có thêm lời khuyên. Trong vài trường hợp bác sĩ có thể kê đơn thuốc giúp ngon miệng.

Nấc cụt

Nấc cụt có thể là do gan bị to ra, chèn ép lên cơ hoành ở bụng gây co thắt. Có thể khắc phục bằng cách ngồi thẳng dậy và uống thường xuyên nhiều ngụm nước nhỏ. Cũng có một số thuốc có thể giúp giảm nấc cụt.

Cổ trướng

Cổ trướng là tích tụ lượng lớn dịch ở ổ bụng. Có thể mất nhiều tuần nhiều tháng để tích dịch và có thể làm cho bụng trướng lên và gây khó chịu. Do dịch có thể gây sức ép lên dạ dày và cơ hoành nên có thể làm bạn khó thở hoặc buồn nôn. Nếu bạn bắt đầu có các triệu chứng như vậy thì hãy nói với bác sĩ điều trị ngay lập tức.  

Có thể áp dụng thủ thuật chọc dò dịch màng bụng để giảm nhẹ triệu chứng. Thủ thuật này thực hiện bằng cách gây tê da tại chỗ và luồn kim vào khoang bụng dưới. Thủ thuật thường được thực hiện đồng thời khi siêu âm. Sau đó luồn một ống nhỏ thông vào khoang bụng, rồi khâu cố định lại hoặc cố định bằng băng gạc y tế và nối ống thông với túi thải bên ngoài cơ thể. Dịch được chảy ra chậm, thường là trong vài giờ hoặc đôi khi là vài ngày.

Mặc dù bạn có thể nhận biết là có ống thông được đặt nhưng ống không được gây khó chịu. Ống sẽ được tháo ra khi dịch không còn chảy ra ngoài nữa. Thủ thuật này có thể lặp lại nếu dịch tích tụ lại. Thuốc lợi tiểu (thuốc thải nước ra khỏi cơ thể) đôi khi được kê đơn nhằm làm chậm quá trình tích tụ dịch. Một số người thì cần giữ ống thông vĩnh viễn để có thể dùng tại nhà.

Mệt lả (cực kỳ mệt mỏi)

Mệt lả liên quan đến ung thư là một trong những triệu chứng phổ biến nhất của người bệnh ung thư vú di căn. 

Thỉnh thoảng ai cũng có cảm giác mệt, nhưng mệt lả liên quan đến ung thư thì tệ hơn nhiều. Mệt từng cơn hoặc mệt liên tục, có thể gây bực bội và buồn nản. 

Có rất nhiều nguyên nhân, từ yếu tố tâm lý ví dụ như stress phải đối diện với kết quả chẩn đoán ung thư, cho tới cơ thể bị tác dụng phụ của điều trị, mất cảm giác ngon miệng, thuốc, giấc ngủ bị gián đoạn hoặc hoặc ung thư tiến triển.

Mệt lả có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng đối đầu với bệnh ung thư và điều trị ung thư. Nó còn ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày và gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng sống.  

Xem thêm: Bài tập thể dục cho sự mệt mỏi
Thiếu máu

Để có thêm thông tin về quản lý mệt lả, đề nghị xem cuốn sách Trọn gói thông tin ung thư vú tái phát.

Máu có quá ít tế bào hồng cầu thì được gọi là thiếu máu. Bạn có thể bị thiếu máu vì nhiều lý do khác nhau, ví dụ như do tình trạng rối loạn đông máu. Nếu bạn cảm thấy đặc biệt mệt mỏi, thở hổn hển hoặc chóng mặt, hãy nói cho nhóm bác sĩ điều trị biết. Có thể làm xét nghiệm máu để tìm xem bạn có bị thiếu máu hay không. Trong một số trường hợp có thể kê thuốc cho bạn hoặc có thể cần truyền máu.

Vàng da

Vàng da có thể xuất hiện khi ống dẫn mật bị tắc hoặc khi gan bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi ung thư. Nếu bạn bị vàng da thì lòng trắng của mắt và da bạn có màu vàng nhạt. Trong một số trường hợp nước tiểu có thể trở nên sẫm màu hơn và phân có thể có màu nhạt đi. Nếu các xét nghiệm cho thấy ống dẫn mật bị tắc thì bạn có thể cần đặt stent vào ống dẫn mật để làm cho ống thông.

Đôi khi sử dụng một thủ thuật gọi là ERCP (nội soi mật tụy ngược dòng) để đặt stent vào ống dẫn mật. Một ống nhỏ mềm có đèn ở một đầu được đưa qua mồm và dạ dày để đi tới ống dẫn mật. Bạn sẽ được dùng thuốc để làm bạn cảm thấy buồn ngủ trước đó và được yêu cầu không ăn uống bất cứ thứ gì vài giờ trước khi thực hiện thủ thuật. Cách khác nữa là có thể dùng thủ thuật gọi là PTC (soi mật tụy qua da) khi mà bác sĩ sẽ gây tê một khu vực da ở trên gan và sử dụng chụp CT hoặc siêu âm để dẫn ống đi qua da vào ống dẫn mật.

Ngứa da

Vàng da có thể gây ngứa, ngứa nhiều vào ban đêm hoặc khi bạn thấy nóng. Việc quan trọng là giữ ẩm cho da tốt. Hãy sử dụng kem bôi da không có mùi thơm và giữ kem trong tủ lạnh để có thể bóp kem thành dòng khi bạn xoa kem lên da.

Đôi khi có thể dùng thuốc để giúp giảm nhẹ ngứa và bác sĩ chuyên khoa nên tư vấn cho bạn điều này. Có thể uống thuốc ngủ nếu ngứa làm gián đoạn giấc ngủ ban đêm. Cố gắng tránh đồ uống có cồn, thức ăn có mùi vị mạnh và nguồn nhiệt (tắm nước nóng hoặc ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp), tất cả những điều này có thể làm bạn ngứa thêm.

Huyết khối

Những người bị ung thư vú có nguy cơ cao hơn bị huyết khối. Nguy cơ cao hơn là do bản thân ung thư và một số điều trị ung thư vú gây ra.

Bạn có thể có nguy cơ hình thành huyết khối, được gọi là viêm tắc tĩnh mạch sâu (DVT). Những người mắc bệnh DVT có nguy cơ phát triển thuyên tắc động mạch phổi, khi một phần của cục máu đông vỡ ra và đi tới phổi.

Các cục huyết khối có thể gây nguy hiểm nhưng có thể điều trị được nên điều quan trọng là báo cáo các triệu chứng càng sớm càng tốt.

Nếu bạn có bất kỳ triệu chứng nào sau đây hãy liên lạc với bác sĩ địa phương, bác sĩ đa khoa hoặc nhóm bác sĩ điều trị ngay lập tức:

  • Đau, da đỏ/thay đổi màu, bắp chân, cẳng chân hoặc đùi nóng lên và sưng
  • Vị trí đặt đường truyền hóa chất bị sưng lên, đỏ hoặc mềm, ví dụ ở tay, khu vực ngực hoặc lên tới tận cổ
  • Hơi thở ngắn, thở gấp
  • Cảm giác ngực bị bóp chặt
  • Ho không giải thích được (có thể ho ra máu)

Hoạt động thể chất

Mặc dầu có ít nghiên cứu về lợi ích của tập luyện cho những người ung thư vú tái phát, một vài nghiên cứu đã xem xét hiệu quả cho những người mắc ung thư vú nguyên phát.

Các kết quả là tích cực và do đó chúng ta có thể tin rằng hoạt động thể chất cũng mang lại lợi ích ở những người mắc ung thư vú di căn. Tuy nhiên bạn có thể cần cẩn thận thêm một chút.

Tập đều đặn có thể giúp để:

  • Tăng săn chắc cơ thể, sức bền, thể lực ổn định và linh hoạt
  • Kiểm soát cân nặng (khi được kết hợp với chế độ ăn lành mạnh)
  • Tăng hệ miễn dịch
  • Giảm huyết áp
  • Giảm mệt lả

Những người tập luyện, thậm chí chỉ tập nhẹ nhàng cũng giúp dung nạp điều trị tốt hơn và ít bị đau, giấc ngủ tốt hơn và ít mệt mỏi hơn.

Xem thêm: Bài tập thể dục cho sự mệt mỏi

Tập thể dục đều đặn là gì?

Hướng dẫn gợi ý “tập luyện đều đặn” nghĩa là 30 phút tập luyện cường độ vừa phải ít nhất năm ngày trong tuần.  Lượng tập này có thể là hơi quá sức nếu bạn mới tập, nên trước khi bắt đầu tập điều quan trọng là thảo luận với bác sĩ điều trị.  

Bạn có thể bắt đầu nhẹ nhàng và tập tăng dần, không cần 30 phút cùng một lúc. Có nhiều cách để đưa tập luyện thể chất vào trong cuộc sống hàng ngày mà không cần tham gia tập gym hoặc các lớp tập.

“Cường độ vừa phải” nghĩa là bạn thở mạnh hơn, người trở nên ấm hơn và tim bạn đập nhanh hơn thông thường. Tuy nhiên bạn vẫn có thể nói chuyện và không cần cố công tập quá mạnh.

Tập luyện và ung thư vú di căn gan. 

Một số người sống chung với ung thư vú di căn gan không có triệu chứng gì trong khi người khác thì bị đau, mệt, ăn không ngon miệng, nấc cụt, mệt mỏi hoặc mệt lả. Tập luyện có thể giúp giảm một số triệu chứng, nhưng điều quan trọng là bạn phải lắng nghe cơ thể của mình và không cần tập quá sức. Hoạt động nhẹ nhàng đều đặn như đi bộ có hiệu quả nhất.

Nếu bạn đang điều trị thì nên tập nhẹ nhàng hơn. Dừng tập ngay nếu đau hoặc cảm thấy quá sức.

Khi chọn bài tập, cố gắng tập trung vào các hoạt động như đi bộ, bơi lội hoặc đạp xe đạp. Các hoạt động như khiêu vũ hoặc làm vườn cũng có lợi cho sức khỏe. Bạn cũng có thể tập những động tác tăng sự dẻo dai như căng duỗi cơ thể hoặc yoga tác động nhẹ. Điều quan trọng nhất là chọn cái bạn thấy yêu thích và an toàn để tập.

Để biết thêm thông tin về tập luyện và ung thư vú di căn tới xương, phổi và não, đề nghị xem từng quyển sách về ung thư vú di căn.

Sống chung với ung thư vú di căn gan

Khi biết rằng ung thư đã lan tới gan, có thể bạn sẽ có nhiều cảm xúc hỗn độn. Có thể có lúc bạn cảm thấy rất cô độc hoặc bị chế ngự bởi sự sợ hãi, bất an, buồn bã, không chắc chắn, trầm cảm hoặc giận dữ. 

Bạn có thể đương đầu với những cảm xúc này một mình hoặc cùng với sự hỗ trợ của những người gần gũi nhất. Một số người muốn hỗ trợ từ những người có chuyên môn – bạn có thể nói chuyện với điều dưỡng, điều dưỡng chăm sóc giảm nhẹ hoặc các điều dưỡng chuyên chăm sóc tại nhà. Họ có hiểu biết rộng về những yêu cầu cụ thể của bệnh nhân ung thư di căn và biết cách đối đầu và chấp nhận kết quả chẩn đoán bệnh. Họ cũng có kiến thức chuyên môn trong việc giúp kiểm soát đau và các triệu chứng và có thể bố trí cho bạn nói chuyện với chuyên gia tư vấn hoặc một chuyên gia tâm lý. 

Tài liệu tham khảo: 

https://breastcancernow.org/sites/default/files/publications/pdf/bcc36_secondary_bc_in_the_liver_edition_6_2019_web.pdf

 Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.


Gửi bình luận

Bài viết liên quan
Vấn đề về gan (nhiễm độc gan)
Vấn đề về gan (nhiễm độc gan)

Khi gan bị tổn thương do hóa chất (chẳng hạn như một số loại thuốc trị ung thư vú), tình trạng này được gọi là nhiễm độc gan. Tổn thương gan khá nghiêm trọng nhưng có thể điều trị được.

Tìm hiểu ngay
Tuổi tác và nguy cơ mắc ung thư vú
Tuổi tác và nguy cơ mắc ung thư vú

Theo báo cáo của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, chỉ khoảng 1/8 các trường hợp ung thư vú ở giai đoạn xâm lấn gặp ở những phụ nữ dưới 45 tuổi, trong khi đó đến 2/3 các bệnh nhân ung thư vú ở giai đoạn kể trên thường gặp ở phụ nữ trên 55 tuổi.

Tìm hiểu ngay
Yếu tố di truyền trong ung thư vú
Yếu tố di truyền trong ung thư vú

Có khoảng 5% đến 10% ung thư vú được cho là có liên quan đến yếu tố di truyền, gây ra bởi các gen bất thường truyền từ cha mẹ sang con cái.

Tìm hiểu ngay
Một số tổn thương lành tính ở vú
Một số tổn thương lành tính ở vú

Nếu bạn đã được chẩn đoán mắc phải một số tổn thương lành tính ở vú (không phải ung thư), nguy cơ mắc ung thư vú của bạn có thể cao hơn so với người bình thường. Một vài loại trong số các tổn thương lành tính ở vú ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư vú.

Tìm hiểu ngay
Những điều cần biết về các chế độ ăn được tuyên truyền là chữa được ung thư
Những điều cần biết về các chế độ ăn được tuyên truyền là chữa được ung thư

Các chế độ ăn được tuyên truyền là chữa được ung thư. Xin kết luận đó là: Không hề có bất kì bằng chứng khoa học nào cho thấy bất cứ chế độ ăn nào có thể chữa được ung thư!

Tìm hiểu ngay
U xơ tuyến vú
U xơ tuyến vú

Tài liệu này giải thích về u xơ tuyến vú, chẩn đoán và điều gì sẽ xảy ra nếu u xơ cần được theo dõi và điều trị.

Tìm hiểu ngay