Ung thư vú thể ống xâm nhập

Bài viết này nói về ung thư vú thể ống xâm nhập. Ngoài thuật ngữ “ung thư vú thể ống xâm nhập” được sử dụng trong cuốn sách này, các ung thư xâm nhập có nguồn gốc từ cấu trúc tuyến ống của mô vú còn có thể được gọi với các tên gọi khác nhau như:

  • Ung thư biểu mô thể ống xâm nhập của vú (Invasive ductal carcinoma of the breast - IDC)
  • Ung thư vú xâm nhập loại không đặc hiệu (Invasive breast cancer of no special type - NST)
  • Ung thư vú không phân loại khác (Breast cancer not otherwise specified - NOS)

Chúng tôi hy vọng những thông tin trong bài viết này sẽ giúp bạn có thêm thông tin hiểu biết về bệnh. Từ đó sẽ giúp bạn trao đổi và thảo luận một cách dễ dàng hơn với bác sĩ điều trị của mình. Bạn cũng có thể thấy hữu ích khi đọc quyển Trọn gói thông tin ung thư vú nguyên phát.

Ung thư vú thể ống xâm nhập là gì?

Ung thư vú thể ống xâm nhập là loại thường gặp nhất của ung thư vú.

Để hiểu rõ hơn về thuật ngữ trên, chúng ta cần hiểu sơ lược về cấu tạo của tuyến vú. Tuyến vú ở phụ nữ được cấu tạo bởi nhiều thành phần khác nhau, trong đó có một thành phần gọi là cấu trúc ống - có chức năng vận chuyển sữa từ bầu vú tới núm vú ở giai đoạn cho con bú. Các tổn thương ác tính xuất phát từ tế bào biểu mô lót mặt trong của các cấu trúc ống này được gọi chung là ung thư biểu mô thể ống. Nếu tế bào ung thư mới chỉ khu trú tại cấu trúc ống đó thì được gọi là ung thư vú thể ống tại chỗ, còn khi tế bào ung thư đã vượt ra ngoài thành ống và “xâm nhập” vào các cấu trúc lân cận thì được gọi là ung thư vú thể ống xâm nhập. Tuy có cùng nguồn gốc từ cấu trúc ống, song các tế bào ung thư không phải lúc nào cũng có hình thái tổn thương giống nhau khi đánh giá trên kính hiển vi. Do vậy mà tùy vào hình thái, độ biệt hóa của tế bào và sự sắp xếp của tổ chức ung thư mà đôi khi ung thư vú thể ống xâm nhập còn được gọi là ung thư vú xâm nhập “loại không đặc hiệu” hay ung thư vú “không phân loại khác”, đôi khi còn có thể gặp ung thư vú thể hỗn hợp giữa thể ống và thể khác.

Mặc dù rất hiếm gặp song nam giới cũng có bị ung thư vú và ung thư vú thể ống xâm nhập cũng là thể thể thường gặp nhất ở nam giới.


Các triệu chứng của ung thư vú thể ống xâm lấn?
 

Tùy thuộc vào giai đoạn mà khối u ác tính ở vú có thể gây ra các triệu chứng sau:

  • Xuất hiện khối u, thường là một cục cứng đơn độc (đôi khi có thể là một vài cục), hoặc đôi khi chỉ là thấy một vùng của vú “dày” hơn, sờ thấy có mật độ “khác” hơn so với xung quanh
  • Thay đổi da vú như một vùng da bị nhăn lại hoặc lõm xuống
  • Tụt núm vú và/hoặc chảy dịch bất thường núm vú
  • Thay đổi kích thước, hình dạng của vú mà trước đó vẫn bình thường
  • Đau liên tục (thường là một bên) vú hoặc hố nách
  • Xuất hiện cục cứng hoặc sưng nề vùng nách
  • Mặc dù ít phổ biến hơn, song một số trường hợp có thể gặp bệnh Paget vú – biểu hiện bởi xuất hiện ban, dát đỏ bất thường khu trú ở vùng núm vú, quầng vú.

Các bất thường kể trên có thể được phát hiện bởi bác sĩ qua khám bệnh hoặc do bạn tự phát hiện ra qua việc tự khám vú tại nhà. Một số trường hợp được phát hiện tình cờ qua khám sàng lọc mà không có bất kỳ biểu hiện nào kể trên.

Các xét nghiệm giúp chẩn đoán ung thư vú thể ống xâm nhập?

Bên cạnh việc thăm khám, để chẩn đoán ung thư vú nói chung cũng như ung thư vú thể ống xâm nhập, bác sĩ sẽ cần phải kết hợp các phương pháp xét nghiệm khác, bao gồm:

  • Chụp X-quang vú (mammography)
  • Siêu âm vú
  • Chọc hút kim nhỏ (FNA) khối u hoặc hạch nghi ngờ (sử dụng kim và xi-lanh để lấy tế bào từ u và/hoặc hạch nghi ngờ và quan sát dưới kính hiển vi để phát hiện tế bào ung thư nếu có)
  • Sinh thiết lõi ( Sinh thiết kim lớn): sử dụng một kim lớn hơn để lấy một mẫu tổ chức u hoặc hạch rồi quan sát dưới kính hiển vi. Sinh thiết bằng kim lớn không những phát hiện tế bào ung thư mà còn thấy được sự xâm lấn của tế bào ung thư ra xung quanh.
  • Sinh thiết bấm: một số trường hợp u nằm ở bề mặt da hoặc núm vú thì có thể tiến hành lấy bệnh phẩm qua một dụng cụ hỗ trợ gọi là sinh thiết bấm (punch biosy)

Ngoài ra, để chẩn đoán giai đoạn bệnh, bác sĩ sẽ chỉ định các phương pháp khác: XQ ngực, siêu âm ổ bụng, cắt lớp vi tính, xạ hình xương, PET-CT, …

Điều trị

Phẫu thuật

Điều trị ung thư vú là điều trị đa mô thức, tức là phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm phẫu thuật, xạ trị và điều trị bằng thuốc (nội khoa). Tùy thuộc vào giai đoạn mà bác sĩ sẽ đưa ra phương pháp điều trị ưu tiên cho từng thời điểm, trong đó phẫu thuật là điều trị cơ bản khi bệnh ở giai đoạn chưa di căn xa.

Các phương pháp điều trị phẫu thuật triệt căn với ung thư vú gồm 2 nhóm:

  • Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú (breast-conserving surgery): cắt bỏ rộng khối u kèm theo vét hạch nách, phần tuyến vú lành vẫn được bảo tồn. Phẫu thuật bảo tồn cần đảm bảo diện cắt không còn tế bào ung thư.
  • Phẫu thuật cắt tuyến vú: cắt bỏ toàn bộ tuyến vú, bao gồm cả quầng vú và núm vú.

Nên lựa chọn phẫu thuật nào?

Việc lựa chọn loại phẫu thuật phù hợp với từng người bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố liên quan trực tiếp tới khối u bao gồm:

  • Vị trí khối u
  • Kích thước khối u, trong đó cân nhắc về tương quan giữa kích thước u và thể tích vú của từng người để đảm bảo vừa phẫu thuật được triệt để, vừa hiệu quả về mặt thẩm mỹ
  • Có hay không nhiều hơn 2 u ở các phần tử khác nhau của vú.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, về mặt hiệu quả điều trị, phẫu thuật bảo tồn tuyến vú sau đó xạ trị có thời gian sống tương đương với phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú. Nếu bạn còn phân vân giữa 2 lựa chọn, bạn nên trao đổi với bác sĩ điều trị để được tư vấn kỹ hơn. 

Nếu bạn lựa chọn phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú, để đảm bảo tính thẩm mỹ, bác sỹ có thể đề xuất với bạn về phẫu thuật tạo hình lại tuyến vú sau khi đã bỏ toàn bộ vú. Có nhiều phương pháp tạo hình vú khác nhau và có thể được tiến hành ngay sau khi cắt toàn bộ tuyến vú trong cùng một lần mổ hoặc sau một vài tháng, thậm chí là vài năm. Nếu muốn có thêm thông tin đề nghị đọc cuốn Tái tạo vú.

Nếu không làm phẫu thuật tái tạo vú, nếu có nhu cầu bạn có thể sử dụng thêm quả độn ngực- vú nhân tạo được thiết kế đi cùng với áo ngực.

Một số người chọn không tái tạo vú và cũng không đeo quả độn.

Phẫu thuật vét hạch nách?

Bên cạnh việc cắt bỏ u vú, việc kiểm soát hạch nách đóng vai trò quan trọng trong phẫu thuật triệt để ung thư vú. Do vậy mà ngoài việc loại bỏ u vú, bác sỹ phẫu thuật có thể tiến hành vét hạch nách ngay trong khi phẫu thuật một cách thường quy (nếu đã có bằng chứng về di căn hạch nách) hoặc sẽ xác định rõ xem có hay không tình trạng di căn hạch nách trước khi quyết định việc có hay không vét hạch. Khi chưa có bằng chứng về di căn hạch nách qua siêu âm và chọc hút tế bào, phương pháp tốt nhất hiện nay để xác định có hay không di căn hạch nách trước khi phẫu thuật là kỹ thuật sinh thiết hạch cửa.

Sinh thiết hạch cửa là gì?

Hạch cửa (hạch gác) là hạch đầu tiên mà tế bào ung thư có khả năng di căn tới. Bằng kỹ thuật tiêm thuốc nhuộm màu hoặc chất phóng xạ đánh dấu, hạch cửa sẽ được “hiển thị” một cách rõ ràng khi phẫu tích, sau đó sẽ được lấy mà mang đi xét nghiệm dưới kính hiển vi. Nếu hạch cửa có tế bào ung thư thì phẫu thuật vét hạch nách sẽ được tiến hành; nếu hạch cửa không có tế bào ung thư thì có thể không cần vét hạch nách một cách thường quy.

Để có thêm thông tin, đề nghị đọc quyển Trọn gói thông tin ung thư vú nguyên phát.

Điều trị bổ trợ sau phẫu thuật

Điều trị bổ trợ là các phương pháp điều trị được áp dụng sau phẫu thuật triệt để, bao gồm:

  • Hóa trị
  • Xạ trị
  • Điều trị nội tiết
  • Điều trị nhắm trúng đích
  • Dùng thuốc biphosphonate

Mục đích của điều trị bổ trợ là nhằm tiêu diệt tế bào ung thư còn “còn lại” sau phẫu thuật, từ đó giúp giảm tỷ lệ tái phát và di căn về sau. Việc áp dụng một hay phối hợp nhiều phương pháp điều trị bổ trợ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như giai đoạn bệnh, đặc điểm sinh học của khối u, …

Một số trường hợp các phương pháp trên lại được sử dụng trước khi phẫu thuật triệt để và được gọi là điều trị tân bổ trợ

Hóa trị

Hóa trị là phương pháp điều trị nhằm tiêu diệt tế bào ung thư thông qua việc sử dụng các thuốc gây độc tế bào. Chỉ định hóa trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: kích thước u, độ ác tính của tế bào, tình trạng di căn hạch nách v.v..

Hóa trị cũng phụ thuộc vào thụ thể nội tiết và tình trạng HER2. Đề nghị xem mục ‘Liệu pháp nội tiết’ và ‘Các liệu pháp nhắm trúng đích (sinh học)’ để xem giải thích các thuật ngữ này.
Để biết thêm thông tin đề nghị đọc cuốn sách Hóa trị cho ung thư vú.

Xạ trị

Xạ trị là phương pháp dùng tia X có năng lượng cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị thường được chỉ định sau phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, sau phẫu thuật cắt tuyến vú với khối u có kích thước lớn và/hoặc có di căn hạch nách.

Một số người có thể được xạ trị vào các hạch bạch huyết trong hốc nách hoặc ở trên xương đòn.
Đôi khi xạ trị vào thành ngực sau phẫu thuật đoạn nhũ, ví dụ nếu các hạch bạch huyết ở trong hốc nách bị di căn.
Để biết thêm thông tin đề nghị xem cuốn sách Xạ trị cho ung thư vú nguyên phát.

Điều trị nội tiết (liệu pháp hooc-môn)

Một số loại ung thư vú được kích thích phát triển nhờ chất nội tiết estrogen, những loại ung thư này khi làm xét nghiệm sẽ có thụ thể của estrogen dương tính (ER+). Điều trị nội tiết là biện pháp sử dụng các thuốc có tác động lên thụ thể của chất nội tiết estrogen nhằm ngăn cản chất nội tiết estrogen “tiếp xúc” với tế bào ung thư vú, từ đó ngăn chặn tế bào ung thư phát triển. Có nhiều biện pháp điều trị nội tiết khác nhau, lựa chọn phương pháp nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tuổi, tình trạng kinh nguyệt, …
Nếu ung thư vú không được kích thích phát triển bằng estrogen thì được gọi là âm tính thụ thể estrogen (ER-) và liệu pháp nội tiết không mang lại lợi ích cho bạn. Cũng sẽ thực hiện xét nghiệm để xem ung thư là dương tính thụ thể progesteron (một chất nội tiết khác). Lợi ích của liệu pháp nội tiết là kém rõ ràng cho những người mắc ung thư vú chỉ có thụ thể progesteron (PR+ và ER-). Rất hiếm ung thư vú nằm trong chủng loại này. Tuy nhiên nếu bạn rơi vào trường hợp này thì bác sĩ sẽ thảo luận với bạn xem liệu pháp nội tiết có thích hợp hay không.

Điều trị nhắm trúng đích

Điều trị nhắm trúng đích là biện pháp dùng các thuốc có tác dụng ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư bằng cách tác động vào các khâu trong quá trình truyền tín hiệu bên trong tế bào ung thư. Hiện nay có nhiều thuốc điều trị đích khác nhau. Ví dụ về các liệu pháp nhắm trúng đích cho ung thư vú dương tính HER2 gồm trastuzumab và pertuzumab. Nếu ung thư được xác định âm tính HER2 thì các liệu pháp nhắm trúng đích không có bất kỳ lợi ích nào cho bạn.
Xét nghiệm HER2 được thực hiện trên mẫu bệnh phẩm sinh thiết hoặc sau phẫu thuật. Để có thông tin và được tư vấn thêm về tình trạng thụ thể HER2, bạn có thể trao đổi thêm với bác sỹ điều trị.

Thuốc biphosphonat

Biphosphonat là một nhóm thuốc có tác dụng làm chậm hoặc giảm nguy cơ loãng xương trên người bệnh ung thư vú sau mãn kinh (mãn kinh tự nhiên hoặc sau điều trị nội tiết), đồng thời làm giảm nguy cơ gãy xương trên những người bị ung thư vú di căn xương

Theo dõi sau điều trị

Sau khi kết thúc điều trị đặc hiệu tại bệnh viện bằng phẫu thuật, xạ trị, hóa chất,… bạn vẫn cần được được theo dõi định kì để phát hiện sớm tình trạng bệnh tái phát di căn. 

Nếu bạn được phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, việc theo dõi định kỳ cần chụp X-quang vú 2 bên một cách thường quy còn nếu phẫu thuật cắt tuyến vú thì chụp X-quang đối với vú còn lại.

Bên cạnh đó bạn cũng cần lưu ý về bất kỳ những thay đổi bất thường nào trên da vùng phẫu thuật hoặc lân cận nhằm phát hiện sớm hiện tượng tái phát di căn, đồng thời thông báo cho bác sĩ hoặc y tá chăm sóc về những khó chịu bạn gặp phải do tác dụng không mong muốn của phẫu thuật và/hoặc xạ trị để được tư vấn và xử trí kịp thời.

Khi bạn bị ung thư vú thì nguy cơ bị ung thư vú bên còn lại sẽ cao hơn so với người không bị ung thư vú, do vậy cần lưu ý tự khám vú thường xuyên và lưu về những thay đổi bất thường trên vú còn lại.

Chăm sóc hỗ trợ

Bị chẩn đoán mắc ung thư vú sẽ là một khó khăn và đầy thử thách với bạn, có thể có những lúc bạn cảm thấy cô đơn và tách rời với thế giới quanh bạn. Có rất nhiều người có thể giúp đỡ bạn, do vậy đừng ngần ngại chia sẻ những khó khăn bạn đang gặp phải với người thân và đội ngũ chăm sóc sức khỏe. Nếu bạn cần hỗ trợ tâm lý nhiều hơn từ chuyên gia, hãy thông báo với y tá chăm sóc hoặc bác sĩ điều trị để có thể nhận được hỗ trợ từ bác sĩ tâm lý.

Bài viết tham khảo:

https://breastcancernow.org/sites/default/files/publications/pdf/bcc210_invasive_ductal_2018_web.pdf 

Nếu bài viết hữu ích, bạn thích hãy bấm LIKE và SHARE để ủng hộ nhé.


Gửi bình luận

Bài viết liên quan
Tuổi tác và nguy cơ mắc ung thư vú
Tuổi tác và nguy cơ mắc ung thư vú

Theo báo cáo của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, chỉ khoảng 1/8 các trường hợp ung thư vú ở giai đoạn xâm lấn gặp ở những phụ nữ dưới 45 tuổi, trong khi đó đến 2/3 các bệnh nhân ung thư vú ở giai đoạn kể trên thường gặp ở phụ nữ trên 55 tuổi.

Tìm hiểu ngay
Yếu tố di truyền trong ung thư vú
Yếu tố di truyền trong ung thư vú

Có khoảng 5% đến 10% ung thư vú được cho là có liên quan đến yếu tố di truyền, gây ra bởi các gen bất thường truyền từ cha mẹ sang con cái.

Tìm hiểu ngay
Một số tổn thương lành tính ở vú
Một số tổn thương lành tính ở vú

Nếu bạn đã được chẩn đoán mắc phải một số tổn thương lành tính ở vú (không phải ung thư), nguy cơ mắc ung thư vú của bạn có thể cao hơn so với người bình thường. Một vài loại trong số các tổn thương lành tính ở vú ảnh hưởng đến nguy cơ mắc ung thư vú.

Tìm hiểu ngay
Những điều cần biết về các chế độ ăn được tuyên truyền là chữa được ung thư
Những điều cần biết về các chế độ ăn được tuyên truyền là chữa được ung thư

Các chế độ ăn được tuyên truyền là chữa được ung thư. Xin kết luận đó là: Không hề có bất kì bằng chứng khoa học nào cho thấy bất cứ chế độ ăn nào có thể chữa được ung thư!

Tìm hiểu ngay
U xơ tuyến vú
U xơ tuyến vú

Tài liệu này giải thích về u xơ tuyến vú, chẩn đoán và điều gì sẽ xảy ra nếu u xơ cần được theo dõi và điều trị.

Tìm hiểu ngay
Thói quen hút thuốc lá
Thói quen hút thuốc lá

Hút thuốc lá có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú cao hơn ở phụ nữ trẻ và tiền mãn kinh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có thể có mối liên quan giữa phơi nhiễm khói thuốc lá và nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ mãn kinh.

Tìm hiểu ngay